|
CHÚA GIÊ-SU VỪA LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI
VỪA LÀ CON NGƯỜI ĐỂ HOÀN THÀNH SỰ CỨU CHUỘC
Điều thứ nhất chúng ta cần thấy là Chúa Giê-su chính là Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể nói rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể gánh tội lỗi của con người. Đừng bao giờ xem Chúa Giê-su là một người thứ ba đến để chết một cái chết thay thế. Đừng nghĩ rằng Đức Chúa Trời ở một bên, chúng ta ở một bên khác, và Chúa Giê-su là bên thứ ba. Kinh Thánh không bao giờ xem Chúa Giê-su là bên thứ ba. Trái lại, Kinh Thánh xem Ngài là bên thứ nhất. Có thể bạn được cho biết rằng phúc âm giống như con nợ, chủ nợ và con của chủ nợ. Con nợ không có tiền trả nợ. Chủ nợ thì rất nghiêm khắc, nhất định đòi trả nợ. Nhưng con của chủ nợ bước ra trả nợ thay cho con nợ, và con nợ được tự do.
Đó là phúc âm mà ngày nay người ta rao giảng. Nhưng đây không phải là phúc âm thật. Nếu như vậy, thì ít nhất có hai điểm không công bằng và trái với Kinh Thánh. Thứ nhất, cách hiểu như vậy khiến Đức Chúa Trời trở thành Đấng khắc nghiệt và Chúa Giê-su trở thành Đấng nhân từ. Trong sự minh họa như vậy, chúng ta không thấy Đức Chúa Trời thương yêu thế gian. Trái lại, chúng ta chỉ thấy sự đòi hỏi công chính của Ngài và sự đòi hỏi của luật pháp. Chúng ta thấy một Đức Chúa Trời nghiêm khắc, Đấng không có ân điển, và những lời Ngài phán với con người thì luôn luôn nghiệt ngã. Chúng ta thấy Chúa Giê-su thương yêu chúng ta và ban ân điển cho chúng ta. Đây là một phúc âm sai trật. Tuy nhiên, dầu là phúc âm sai trật, nhưng Đức Chúa Trời vẫn dùng phúc âm ấy. Trên thực tế, chính tôi đã được cứu qua loại minh họa này. Nhưng dầu đã được cứu, trong suốt ba năm đầu tôi không bao giờ có thể ngợi khen Đức Chúa Trời. Tôi luôn cảm thấy rằng Chúa Giê-su thật tốt đẹp, tôi cần phải cảm ơn và ngợi khen Ngài, rằng không có Ngài mọi sự đều vô vọng và may mắn thay Ngài đã đến. Trái lại, tôi thấy Đức Chúa Trời thì rất nghiệt ngã, nghiêm khắc và khắc nghiệt. Ngài chẳng đáng yêu chút nào. Dường như mọi điều tốt đều ở nơi Chúa Giê-su còn mọi điều xấu thì ở nơi Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời thật đáng sợ còn Chúa Giê-su thật đáng yêu.
Nhưng đó không phải là Kinh Thánh. Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời thương yêu thế gian đến nỗi đã ban Con của Ngài cho chúng ta (Giăng 3:16). Đức Chúa Trời sai Con Ngài đến với chúng ta vì Ngài thương yêu chúng ta. Đó là lý do vì sao chúng ta được đem trở lại với Đức Chúa Trời sau khi Chúa Giê-su đã hoàn tất công tác của Ngài trên thập tự giá. Nếu Đức Chúa Trời không thương yêu chúng ta và không sai Chúa Giê-su đến với chúng ta, thì điều tốt nhất Chúa Giê-su có thể làm là đem người ta trở lại với chính Ngài; Ngài không thể đem người ta trở về với Đức Chúa Trời. Cảm tạ Chúa vì Đấng thương yêu chúng ta là Đức Chúa Trời. Cảm tạ Chúa vì ấy là chính Đức Chúa Trời đã sai Con của Ngài đến với chúng ta. Chính Cha là Đấng động lòng thương xót. Cha là Đấng yêu thương chúng ta. Cha là Đấng hoạch định sự cứu rỗi. Cha là Đấng có một ý chỉ trong cõi đời đời quá khứ. Trước hết, Cha đã dự định mọi điều, và rồi Con đến. Vì vậy, con người mà nghĩ rằng có ba bên thì thật sai lầm. Chỉ có hai bên thôi là Đức Chúa Trời và con người. Chúa Giê-su là quà tặng của Đức Chúa Trời ban cho con người. Tuy nhiên, quà tặng này là điều gì đó sống động và có một ý chí, chứ không phải là vật vô tri vô giác và không có ý chí. Cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự cứu rỗi là điều gì đó giữa Đức Chúa Trời và con người. Chúa Giê-su là quà tặng. Ngày nay, Đấng mà chúng ta phải đối diện là Đức Chúa Trời. Chúng ta đến với Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-su. Đó là điều thứ nhất mà chúng ta phải nhận biết.
Thứ hai, nếu có ba bên, thì Chúa Giê-su sẽ không đủ điều kiện chết thay cho chúng ta. Đành rằng khi Chúa Giê-su chết thay cho chúng ta, sự công chính của Đức Chúa Trời được thỏa đáp và những tội lỗi của con người được tha thứ, nhưng đối với Chúa Giê-su, điều đó có công chính không? Giả sử có hai anh em nọ. Người em phạm tội rất nặng và bị kết án tử hình. Người anh rất sẵn lòng chết thay cho người em và vì vậy bị hành hình thay cho người em. Người anh vốn vô tội, và thuộc bên thứ ba. Người anh chết thay cho người em. Kinh Thánh không bao giờ dạy rằng Chúa Giê-su chết thay cho chúng ta theo cách như vậy. Kinh Thánh không bao giờ dạy rằng Đức Chúa Trời có một sự đòi hỏi, luật pháp của Ngài phải được thỏa đáp, và Chúa Giê-su đã đến làm trọn luật pháp của Đức Chúa Trời để con người thỏa đáp sự đòi hỏi của luật pháp. Không có điều như vậy. Khi đến hoàn thành sự cứu chuộc, Chúa Giê-su đã nhận địa vị gì? Chúng ta phải xem xét vấn đề này cách cẩn thận và chính xác từ Kinh Thánh.
Tôi muốn anh em nhận biết một điều. Thế gian nghĩ rằng chỉ có một cách để giải quyết nan đề tội. Mặt khác, những người rao giảng giáo lý sai trật nói rằng có ba cách để giải quyết tội. Nhưng đối với Đức Chúa Trời, chỉ có hai cách để giải quyết tội. Ở đây cần có vài lời giải thích. Trước khi đọc Lời của Đức Chúa Trời, một người có thể nghĩ rằng bất kỳ cách nào trong ba cách này đều có thể giải quyết nan đề: con người có thể giải quyết, Đức Chúa Trời có thể giải quyết và bên thứ ba cũng có thể giải quyết nan đề ấy bằng sự thay thế. Những người chưa được cứu là những người không nhận biết Đức Chúa Trời cho rằng chỉ có một giải pháp là con người tự giải quyết nan đề. Nhưng sự công chính của Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy rằng chỉ có hai cách để giải quyết nan đề này. Một là bởi chính Đức Chúa Trời và cách kia là bởi chính con người. Tôi muốn nói gì qua điều này? Trước hết, chúng ta hãy xem xét điều con người suy nghĩ. Họ nghĩ rằng họ là tội nhân, vì vậy họ sẽ gánh chịu sự phán xét của tội và cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Con người nghĩ mình sẽ bị hư mất và đi đến chỗ diệt vong. Cách duy nhất để con người tự giải quyết nan đề mình là đi địa ngục. Con người chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm. Nếu một người phạm tội, người đó đi xuống địa ngục và chịu sự phán xét của tội mình. Đó là một cách để giải quyết nan đề. Khi một người mắc nợ, người đó bán tất cả những gì mình có. Thậm chí phải bán vợ, con, nhà cửa, đất ruộng, nếu đó là điều phải làm, để giải quyết nan đề. Đó là công chính. Kế đến có một quan niệm sai lầm khác. Đối với những người đã nghe phúc âm, họ cho rằng Chúa Giê-su là bên thứ ba đến để thế chỗ chúng ta và giải quyết nan đề tội của chúng ta. Con người đã phạm tội và phải chịu sự phán xét của tội. Bây giờ tất cả sự phán xét ấy chất trên Chúa Giê-su; Ngài gánh lấy mọi sự phán xét. Sự dạy dỗ như vậy dường như đúng. Nhưng sau đây bạn sẽ thấy quan niệm ấy không đúng.
Vì cớ những người có quan niệm không rõ ràng, trước hết tôi xin nói vài lời. Trong Kinh Thánh có hai giáo lý quan trọng đó là sự gánh vác tội lỗi và giá chuộc cho tội lỗi. Xin đừng nghĩ rằng tôi không tin đến sự thay thế. Nhưng sự thay thế mà một số người nói đến không phải là sự thay thế trong Kinh Thánh, vì loại thay thế này dính líu với sự không công chính. Nếu Giê-su vô tội làm người thay thế cho chúng ta là những con người tội lỗi thì tất nhiên phần lợi về chúng ta. Nhưng đối xử với Chúa Giê-su như vậy có công chính không? Ngài không phạm tội. Tại sao Ngài bị giết? Đây không phải là loại thay thế mà Kinh Thánh nói đến. Nếu Chúa Giê-su chết vì tất cả các tội nhân trên thế gian, thì những người tin Giê-su cũng như những người không tin Ngài đều sẽ được cứu. Chúa đã chết cho cả hai, dù họ tin hay không. Một người không thể quay hướng bánh xe đi ngược lại và không thể đảo ngược sự chết của Chúa chỉ vì một số người không tin. Một người có thể làm cho bánh xe quay lui trở lại đối với những điều khác. Nhưng sự cứu chuộc không phải là điều có thể đảo ngược. Tại sao Kinh Thánh nói rằng những ai không tin thì đã bị phán xét và sẽ hư mất (Giăng 3:16, 18)? Lý do là Con Đức Chúa Trời chỉ chết một cái chết thay thế cho chúng ta là những người tin. Ngài không phải là người thay thế cho những ai không tin.
Thế thì phương cách giải quyết nan đề tội theo Kinh Thánh là gì? Chỉ có hai phương cách công chính để giải quyết nan đề này. Cách thứ nhất liên hệ đến người phạm tội và cách thứ hai liên hệ đến người bị xúc phạm. Trên thế giới chỉ hai bên này là đủ điều kiện để giải quyết nan đề ấy. Chỉ có hai người trên thế giới có đủ thẩm quyền để giải quyết nan đề tội. Một là người phạm tội, và người kia là người bị xúc phạm. Tại phiên tòa, khi người này kiện người kia thì người thứ ba không có quyền nói gì. Trong một phiên tòa đang diễn ra, chỉ người phạm tội và người bị xúc phạm mới có quyền nói. Về sự cứu rỗi của tội nhân, nếu tội nhân không tự mình giải quyết vấn đề thì Đức Chúa Trời phải giải quyết thay cho họ. Tội nhân là bên phạm tội, và Đức Chúa Trời là bên bị xúc phạm. Mỗi bên có thể giải quyết nan đề tội theo cách công chính nhất. Về phía tội nhân, họ bị phán xét, trừng phạt, hư mất và diệt vong là điều công chính. Nhưng có một cách khác cũng không kém công chính. Bên bị xúc phạm có thể gánh chịu hình phạt. Điều này có thể hết sức khó hiểu đối với chúng ta, nhưng đây là sự thật. Ấy là bên bị xúc phạm gánh chịu tội lỗi. Đó không phải là bên thứ ba gánh những tội lỗi của chúng ta. Bên thứ ba không có quyền xen vào. Nếu bên thứ ba xen vào, thì đó là không công chính. Chỉ khi nào bên bị xúc phạm sẵn sàng chịu mất mát thì nan đề mới có thể được giải quyết. Vì Đức Chúa Trời có tình yêu và cũng có sự công chính, nên Ngài sẽ không để tội nhân gánh chịu tội lỗi của mình vì điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời là công chính nhưng không thương yêu. Sự lựa chọn duy nhất là để bên bị xúc phạm bước vào. Chỉ nhờ Đức Chúa Trời gánh các tội lỗi của chúng ta mà sự công chính được duy trì.
Bạn có biết sự tha thứ nghĩa là gì không? Trên thế gian, chúng ta có sự tha thứ. Giữa những cá nhân có sự tha thứ. Giữa chính phủ và dân chúng có sự tha thứ. Thậm chí giữa các quốc gia cũng có sự tha thứ. Giữa Đức Chúa Trời và con người cũng có sự tha thứ. Sự tha thứ là điều gì đó được mọi người công nhận như là một sự thật. Không ai có thể nói sự tha thứ là điều không công chính. Đó là điều mà một người vui vẻ làm cho người khác. Nhưng vấn đề là ai có quyền tha thứ? Nếu một anh em lấy cắp của tôi mười đô-la và tôi tha thứ cho anh, điều đó nghĩa là tôi gánh hậu quả của tội lỗi anh. Tôi đã chịu mất mười đô-la. Một ví dụ khác, giả như anh em đấm vào mặt tôi. Cú đấm ấy mạnh đến nỗi làm cho tôi chảy máu. Nếu tôi nói tôi tha thứ cho anh em, điều đó nghĩa là anh em phạm tội đánh [người khác] và tôi chịu hậu quả của cú đấm đó. Đó là sự tha thứ. Tha thứ nghĩa là một bên phạm tội và bên kia gánh hậu quả của tội lỗi đó. Tha thứ là việc bên bị xúc phạm gánh chịu trách nhiệm của bên phạm tội. Bên thứ ba không có quyền bước vào để tha thứ. Người đó không thể bước vào để bồi thường. Nếu bên thứ ba bước vào để tha thứ và bồi thường, thì đó là không công chính. Nếu Chúa Giê-su bước vào như bên thứ ba để thay thế cho tội nhân, điều đó có thể là tốt đẹp cho tội nhân và Đức Chúa Trời cũng có thể không có nan đề với điều đó, nhưng có nan đề với Chúa Giê-su. Ngài không có tội. Tại sao Ngài phải chịu phán xét? Chỉ bên phạm tội mới có thể gánh hậu quả của tội lỗi, người đó phải mang trách nhiệm của mình và chịu phán xét vì tội lỗi của mình. Và người duy nhất có thể gánh tội lỗi của người đó là người mà người đó xúc phạm. Chỉ người bị xúc phạm mới có thể gánh tội lỗi của người phạm tội. Đó là công chính. Đó là nguyên tắc của sự tha thứ. Cả luật pháp của Đức Chúa Trời lẫn luật lệ của con người đều thừa nhận rằng điều này là công chính. Con người có quyền chịu thiệt hại. Vì con người có ý chí tự do, Đức Chúa Trời cũng có ý chí tự do. Một người có ý chí tự do có quyền chọn chịu thiệt hại.
Thế thì sự cứu chuộc của Đấng Christ là gì? Công tác cứu chuộc của Đấng Christ là chính Đức Chúa Trời đến để gánh vác tội lỗi mà con người phạm nghịch cùng Ngài. Lời này nghe êm tai hơn mọi âm nhạc trên thế gian. Công tác cứu chuộc của Christ là gì? Đó là Đức Chúa Trời gánh lấy điều mà con người đã phạm nghịch cùng Ngài. Nói cách khác, nếu Giê-su người Na-xa-rét không phải là Đức Chúa Trời, Ngài sẽ không đủ điều kiện để gánh lấy tội lỗi của chúng ta cách công chính. Giê-su người Na-xa-rét là Đức Chúa Trời. Ngài là chính Đức Chúa Trời mà chúng ta đã phạm tội nghịch cùng. Đức Chúa Trời của chúng ta đã đích thân xuống thế gian và gánh vác tội lỗi của chúng ta. Ngày nay, chính Đức Chúa Trời thay vì con người đã gánh những tội lỗi của chúng ta. Đó là nguyên do vì sao đây là sự mang vác công chính. Chúng ta không thể tự gánh lấy. Nếu phải gánh tội lỗi, chúng ta hẳn đã hoàn toàn tuyệt vọng. Cảm tạ Đức Chúa Trời vì chính Ngài đã đến thế gian để gánh những tội lỗi của chúng ta. Đó là công tác của Chúa Giê-su trên thập tự giá.
Vậy tại sao Đức Chúa Trời phải trở thành con người? Đức Chúa Trời thương yêu thế gian là tốt đủ rồi. Tại sao Đức Chúa Trời phải ban Con độc sanh của Ngài? Một người phải nhận thức rằng con người đã phạm nghịch cùng Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời buộc con người phải gánh tội lỗi của mình, làm sao con người có thể thực hiện điều đó? Tiền công của tội lỗi là sự chết. Khi tội lỗi thúc đẩy và hành động bên trong, nó dẫn đến sự chết. Sự chết là hình phạt thích đáng cho tội (Rô 5:12). Khi con người phạm tội nghịch cùng Đức Chúa Trời, họ phải gánh chịu hậu quả của tội là sự chết. Do đó, Đức Chúa Trời là bên khác. Ngài mà muốn đến để chịu trách nhiệm về chúng ta và chịu hậu quả của tội chúng ta thì Ngài phải chết. Nhưng 1 Ti-mô-thê 6:16 cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời là bất tử, Ngài không thể chết. Dầu Đức Chúa Trời sẵn sàng đến thế gian và gánh tội lỗi của chúng ta, dầu Ngài sẵn sàng chết và đi vào chỗ diệt vong, nhưng Ngài không thể nào làm điều đó. Đơn giản là sự chết không có ảnh hưởng gì trên Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không thể nào chết được. Vì vậy, để Đức Chúa Trời chịu sự phán xét tội lỗi mà con người phạm nghịch cùng Ngài, Ngài phải mặc lấy thân thể con người. Đó là lý do vì sao Hê-bơ-rơ 10:5 nói rằng khi Đấng Christ vào thế gian, Ngài phán: “Chúa đã sắm sửa cho Tôi một thân thể rồi”. Đức Chúa Trời đã sắm sửa cho Đấng Christ một thân thể nhằm mục đích để Đấng Christ có thể dâng chính Ngài như của lễ thiêu và của lễ chuộc tội. Chúa phán: “Của lễ toàn thiêu và của lễ chuộc tội Chúa cũng chẳng đẹp lòng” (c. 6). Bây giờ Ngài đang dâng thân thể của Ngài để xử lý tội lỗi của con người. Vì vậy, Chúa Giê-su đã trở thành con người, vào thế gian để chịu đóng đinh trên thập tự giá.
Chúa Giê-su không phải là bên thứ ba; Ngài là bên thứ nhất.
Vì là Đức Chúa Trời nên Ngài có đủ điều kiện chịu đóng đinh trên thập tự giá. Vì là con người nên Ngài có thể chết trên thập tự giá vì cớ chúng ta. Chúng ta phải phân biệt rõ giữa hai lời tuyên bố này. Ngài có đủ điều kiện chịu đóng đinh vì Ngài là Đức Chúa Trời, và Ngài có thể bị đóng đinh vì Ngài là con người. Ngài là bên đối lập; Ngài đã bước sang bên của con người để chịu sự trừng phạt. Đức Chúa Trời đã trở thành một con người. Ngài đã đến giữa vòng con người, kết hiệp chính Ngài với con người, mang lấy gánh nặng của con người và gánh mọi tội lỗi của con người. Nếu sự cứu chuộc là công chính, thì Giê-su người Na-xa-rét phải là Đức Chúa Trời. Nếu Giê-su người Na-xa-rét không phải là Đức Chúa Trời, thì sự cứu chuộc không công chính. Mỗi khi nhìn xem thập tự giá, tôi thầm nói: “Đó là Đức Chúa Trời”. Nếu Ngài không phải là Đức Chúa Trời, thì sự chết của Ngài hóa ra không công chính và không thể cứu chúng ta, vì Ngài chỉ là bên thứ ba. Nhưng cảm tạ và ngợi khen Chúa, Ngài là bên đối nghịch với chúng ta. Đó là lý do vì sao tôi tuyên bố rằng chỉ hai bên mới có thể giải quyết những tội lỗi của chúng ta. Một bên là chúng ta trong trường hợp chính chúng ta chịu chết. Bên kia là Đức Chúa Trời mà chúng ta phạm nghịch trong trường hợp Ngài chết cho chúng ta. Ngoài hai bên này không có bên thứ ba có quyền giải quyết những tội lỗi của chúng ta.
|