Giới thiệu căn bản về Guitar Rock
Khái niệm cơ bản:
image004.png Grace note (nốt chuyển): Một grace note là một note dùng để tạo tính uyển chuyển trước một note chính. Nó được chơi rất nhẹ trước khi chuyển sang note chính.
staccato.pngStaccato (ngắt âm): Một note ngắt âm được thực hiện rất ngắn, không phụ thuộc vào nhịp điệu trên khuôn nhạc. Note được hiển thị trên một dấu chấm nhỏ.
FadeIn.png Fade in (lớn dần): Hiệu ứng (effect) này được thực hiện qua quá trình điều chỉnh âm lượng (volume).
righthand.png Left hand fingering (ngón bấm tay trái): Sử dụng ngón nào để bấm phím (tay trái đối với người thuận tay phải): “T” nếu là ngón cái, “1” nếu là ngón trỏ, “2” nếu là ngón giữa, …
lefthand.png Right hand fingering (ngón bấm tay phải): Sử dụng ngón nào để đánh trên dây: "T" nếu là ngón cái, "I" nếu là ngón trỏ, "M" nếu là ngón giữa, ...
stroke.png Stroke: Đánh chung các dây với nhau với một tốc độ nhất định. Các dây được đánh trong cùng một nhịp, nhưng không phải cùng lúc với nhau. Mặc định được thực hiện từ dây bass trên cùng (dây số 6) đến dây dưới cùng (dây số 1). Với Up stroke, quá trình thực hiện ngược lại từ dây số 1 lên dây số 6.
pickstroke.png Pickstroke: Stroke được thực hiện với phím, up stroke & down stroke.
ghostnote.png Ghost note: Note được đánh nhẹ, hiển thị trong cặp dấu ngoặc tròn.
accentuated.png Accentuated Note: Ngược lại với ghost note, accentuated note được đánh mạnh hơn những note bình thường.
deadnote.png Dead note (note chết): Một note chết là một note được đánh ngắn và nhẹ hơn note thông thường. Note này không có cao độ, được thực hiện bằng cách đặt tay trái (nếu là thuận tay phải) lên ngăn phím nhưng không bấm, hoặc đặt tay phải lên dây đàn để “bịt” dây lại.
Các kỉ thuật cơ bản đối với guitar điện trong nhạc rock.
image020.jpg Let ring (ngân): Để các dây ngân tự nhiên dài hơn bình thường. Kỉ thuật này thường được sử dụng trong các hợp âm rải.
Ví dụ Let ring và Accentuated Note
Ví dụ Let ring và Accentuated note
naturalharmonic.png Natural harmonic (harmonic tự nhiên): Hiệu ứng này gây ra một âm thanh lạ tai, giống như tiếng chuông. Đặt nhẹ ngón tay trái lên dây đàn (không bấm), tay phải đánh dây, đồng thời buông tay trái ra cùng lúc. Thông thường, hiệu ứng sẽ tốt nhất ở các ngăn thứ 3, 5, 7, 12. Nếu kết hợp sử dụng với hiệu ứng âm thanh distortion, hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều.
image010.jpg Artificial harmonic (harmonic nhân tạo):Tay trái bấm phím như bình thường, tay phải đánh dây, sau đó (trong lúc dây vẫn đang còn ngân) dùng ngón trỏ của tay phải chạm nhẹ vào dây phía trên (về gần hơn phía tay phải), cách một vài ngăn phím.Tayphải vừa phải đánh dây, vừa phải thực hiện kỉ thuật này do đó sẽ khó hơn.
Các kiểu harmonic nhân tạo:
A.H. (Artificial harmonic): Thực hiện như trên.
T.H. (Tapped Harmonic): Là một kiểu harmonic nhân tạo (Artificial harmonic) bằng cách tap dây rất nhanh phía trên vị trí bấm dây vài ngăn phím.
P.H. (Pinch Harmonic): Thực hiện cùng với phím. Tay phải cầm phím sao cho khi đánh một note bằng phím, phần ngón cái sẽ vừa đủ để chạm nhẹ vào dây (tay trái bấm dây bình thường). Cần kết hợp với hiệu ứng âm thanh distortion để đạt hiệu quả cao nhất. Âm thanh bởi hiệu ứng này sẽ gây “tiếng thét” rất đặt trưng, được kết hợp bởi âm gốc của note và âm harmonic. Vị trí đánh dây của tay phải khác nhau sẽ tạo âm thanh khác nhau.
S.H. (Semi Harmonic): Giống như pinch harmonic, nhưng không giữ lại âm thanh tự nhiên của note (ngón cái tay phải cần chạm dây mạnh hơn).
tap.png Tapping (chấm dây): Kỉ thuật được thực hiện bằng cách thay vì dùng phím hoặc ngón đánh lên dây ở tay phải, dùng ngón tay phải “bấm” trực tiếp lên dây trên các ngăn phím trên cần đàn, vừa đủ mạnh để phát ra âm thanh.
image013.png Hammer on / Pull off: Là sự chuyển tiếp giữa hai note trên cùng một dây. Note đầu tiên được đánh bình thường trong khi đó note thứ hai được thực hiện bằng cách dùng ngón khác ở tay trái (tay bấm phím) bấm tiếp vào note thứ hai trong khi note thứ nhất còn đang ngân.
Hammer on: Note thứ nhất có cao độ thấp hơn note thứ hai.
Pull off: Ngược lại với hammer on, note thứ nhất có cao độ cao hơn note thứ hai.
bend.png Bend: Được thực hiện bằng cách kéo (hoặc đẩy) dây đang được chơi bằng tay trái (tay bấm) trong khi note đang ngân, do đó cao độ của note sẽ thay đổi.
tremolobar.png Tremolo Bar: Sử dụng cần nhún (tay phải).
image012.jpg Slides: Kỉ thuật được áp dụng trên tay trái (tay bấm phím với người thuận tay phải) bằng cách trượt giữa các ngăn phím (trong lúc dây đang ngân).
Ví dụ Dead Note và Slice
Ví dụ Dead Note và Slice
vibrate.png Virbrate: Kỉ thuật này được thực hiện bằng cách “lắc” nhẹ lên xuống một note đang ngân bằng tay trái với một tốc độ nhanh vừa phải (tạo ra độ “dợn sóng”).
image018.jpg Wide Virbrate: Kỉ thuật Virbrate được thực hiện với biên độ sâu hơn, nghĩa là cần “lắc” dây mạnh hơn.
Ví dụ về kỉ thuật Bend và Virbrate (Nothing Else Matter – Metallica)
Ví dụ về kỉ thuật Bend và Virbrate (Nothing Else Matter – Metallica)
image016.jpg Trill: Kỉ thuật trill được thực hiện bằng cách thực hiện hammer on và pull off hoán đổi qua lại lẫn nhau với tốc độ nhanh. Khi đó, note chỉ được đánh 1 lần duy nhất.
tremolopicking.png Tremolo Picking: Cùng một note và trên cùng một dây, dùng phím đánh lên và xuống với tốc độ nhanh.
palmmute.png Palm Mute: Kỉ thuật được thực hiện bằng cách dùng tay phải (đối với người thuận tay phải) bịt vừa phải vào dây đàn gần ngựa đàn vừa đủ để dây không ngân tự do khi đánh. Tay trái bấm phím như bình thường.
Để có thể theo dõi hình ảnh minh họa xin các bạn bấm vào đường nối kết bên dưới :
http://audio.myna.vn/trang-chu/tham-khao/ky-thuat-choi-nhac-cu/22-gioi-thieu-can-ban-ve-guitar-rock?showall=&limitstart=